Hôm trước nói chuyện với Hà, tôi mới chợt nhận ra là bấy lâu nay không nghe thấy mấy người nói “ăn cơm trước kẻng”, giờ có vẻ mọi người chuyển qua dùng “bác sĩ bảo cưới” nhiều hơn. Vậy là, một số cách diễn đạt lại sắp rơi vào dĩ vãng.

Cách đây độ chục năm trở về trước, mọi người hễ thấy đôi trai gái nào có em bé trước khi kết hôn thì ngay lập tức tếu táo với nhau rằng: “Ồ, hai đứa nó ăn cơm trước kẻng”. Cái cụm từ này, rất tiếc, lại không mang ý nghĩa gì tích cực cho lắm. “Ăn cơm trước kẻng” ám chỉ một người nào đó làm một việc gì đó trái hoặc làm không đúng tuần tự các nghi lễ thông thường - mà với hệ tư tưởng Nho giáo thống trị gần 7 thập kỷ thì chỉ một suy nghĩ nảy sinh mà đi ngược lại với “lễ” thì đã bị tội “chu di tam tộc” rồi. Nói đến “ăn cơm trước kẻng” là nói đến một hành vi vô đạo đức. Lời nói “ăn cơm trước kẻng” đã đi vào đời sống một cách quá tự nhiên tới mức không ai còn dừng lại, dù chỉ một giây, để suy ngẫm về ý nghĩa của câu nói đó trước khi phát ngôn. 

Tôi muốn nhìn nhận diễn ngôn này (“diễn ngôn” ở đây được hiểu như một hành động ngôn ngữ, một lời nói thốt ra, chứ không nhìn theo nội hàm về quyền lực) dưới lăng kính của sinh họcvăn hoá phong tục Việt Nam

Các cụ nhà ta sáng tạo ra nó, không phải là không có hàm ý. Về mặt đạo đức, nó hướng người phụ nữ vào khuôn khổ của công-dung-ngôn-hạnh, và giáo dục đàn ông tránh xa cái ham muốn trần tục mà tu tâm vào còn đường danh lợi kinh bang tế thế. Mặc khác, tôi nghĩ nó cũng có ý nghĩa sinh học ở đây, dù tôi không chắc các cụ nhà mình có nghĩ tới khía cạnh này khi sáng tạo ngôn ngữ. Hôn nhân, ngoài ý nghĩa thiết lập một cấu trúc xã hội, thì nó còn đánh dấu một thời điểm mà cơ thể sinh học của người đàn ông và người phụ nữ đã đủ trưởng thành để tạo ra những nhân giống tốt cho thế hệ kế tục. Vì “ăn cơm trước kẻng” không được xã hội công nhận, nên thường là các cặp đôi phải hành sự trong lén lút, mà một khi tâm lý đã không được thoải mái như vậy thì những cái phôi hạt ban đầu chẳng phải đã mang trong mình những lén lút rồi sao, ấy là chưa kể nếu cặp đôi vẫn chưa có cấu trúc sinh sản hoàn thiện thì rất có thể sẽ dẫn tới sinh non, hoặc con sinh ra bị còi cọc. Các cụ gán cái tội gọt đầu bôi vôi ấy cho cặp tình nhân phải chăng cũng có lưu tâm về mặt tiến hoá?

Phải nói thêm là, nếu đứng trên góc độ sinh học và ưu thế tiến hoá mà nhìn nhận chuyện “quan hệ tình dục trước hôn nhân” như vậy, thì tôi thiết nghĩ cụm từ “hôn nhân” - một hình thức cấu trúc xã hội, chẳng mấy liên quan tới “quan hệ tình dục”. Quan hệ tình dục là quan hệ tình dục chứ sao lại có cái mốc hôn nhân ở đấy? Nếu hai người tham gia hoạt động giao hợp có thể cùng đảm bảo về sức khoẻ của chính họ (ý là không để lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục) và, đương nhiên, trách nhiệm nuôi con, thì hôn nhân chẳng có nghĩa lý gì. Như tôi đã nói ở một bài viết trước, hôn nhân hoàn toàn có thể đến sau khi em bé xuất hiện. Tuy nhiên, tôi lại khá thích cái chữ “hôn nhân” ở một điểm, ấy là nó thúc đẩy một suy nghĩ khá trưởng thành rằng: hai người cần đảm bảo mọi hành vi tiếp theo của họ là dựa trên sự quan tâm tuyệt đối cho người còn lại.

Nếu nhìn nhận chuyện này dưới góc độ văn hoá phong tục, tôi cũng không loại trừ khả năng nó là một tục kiêng cữ. Trong phong tục Việt Nam, không ít những tục kiêng cữ như: “cắt rốn cho hài nhi bằng que nứa mỏng, có cật sắc, hoặc bằng mảnh chai vỡ, kiêng không dùng dao kéo là đồ sắt” (Đất lề quê thói, tr.17) hay “nhau (thai) thì đem bỏ vào một cái nồi đất mới, chôn ở trước phòng người sản phụ, phải chôn sâu để đứa bé không hay trớ, và phải tránh chỗ giọt tranh đẻ đứa bé khỏi chốc đầu, toét mắt” (Đất lề quê thói, tr.17). Thực tế là “vì không có kéo dùng riêng cho việc này (việc sinh nở), … người ra cho rằng dao không sạch bằng que nứa, mảnh chai, mới mượn cái thuyết phải kiêng kỵ đồ sắt, là dụng ý vệ sinh” (Đất lề quê thói, tr.18), hoặc “cũng như chôn nhau (thai) thì phải tránh giọt tranh và chôn sâu là có ý sợ nước mưa trút xuống làm lủng đất, nhau sẽ sình thối lên” (Đất lề quê thói, tr.18) chứ chẳng liên quan gì tới chuyện em bé bị trớ hay toét mắt cả. Như vậy, trông cái vỏ thì ta thấy nó là một tập tục, nhưng lõi thì lại có yếu tố sinh học ở đấy; những lời kiêng cữ của các cụ chẳng phải hết sức nhân văn hay sao? [Bổ sung] Khi đọc tiếp cuốn Đất lề quê thói, tôi phát hiện ra là vấn đề này không nên được nhìn nhận dưới góc độ sinh học và phong tục. Trẻ em gái 13 tuổi đã được kết hôn rồi nên xem ra các cụ cũng chả mấy quan tâm đến nòi giống của thế hệ sau thì phải huhu. Mà kiêng cữ thì cũng chả phải, 13 tuổi thì cơ quan sinh dục đã phát triển đầy đủ đâu, kiêng cữ cái nỗi gì!

Tôi viết như vậy là để có cái nhìn công tâm hơn về “ăn cơm trước kẻng”. Thêm một ý nữa là: “When you do something with consequence, do it with sense.” (tạm dịch: Khi bạn làm bất cứ chuyện gì mà dẫn tới hệ quả, hãy làm việc đó trong trạng thái tỉnh táo.) Trước kẻng hay sau kẻng không quan trọng, quan trọng là dành bao nhiêu sự quan tâm, sự tỉnh táo và trách nhiệm ở đó. [Bổ sung] Sau khi viết xong bài này mới phát hiện ra ngôn từ của mình thiên về phụ nữ quá mà chưa thấy vai trò của đàn ông ở đây.

Quềnh. Ngày 20.05.2019 

Tài liệu tham khảo:  Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Công ty Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam, ấn bản 2018.